BÀI TUYÊN TRUYỀN
PHÒNG NGỪA NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM VÀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM NGÀY TẾT
Hiện nay, Ngộ độc thực phẩm là vần đề hết sức phức tạp và đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hộ, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và đời sống của con người đặc biệt là trong giai đoạn Tết Nguyên Đán đang cận kề.
Để giúp giáo viên , học sinh nhà trường hiểu hơn về ngộ độc thực phẩm và có thể tự phòng ngừa bệnh. Hôm nay tôi xin gửi đến quý thầy cô và các em một số biện pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ngày tết như sau:
I.NHỮNG ĐIỀU CÂN CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM.
1. Rửa tay trước khi ăn, nhất là khi ăn bốc.
2. Chỉ uống nước chín (đun sôi để nguội), hoặc đã qua thiết bị tinh lọc.
3. Phòng ngộ độc bởi phẩm màu độc hại: luôn nghi ngờ thịt sống, chín nhuộm màu khá thường: xôi màu gấc không thấy hột và thịt gấc; bánh, kẹo, mứt có màu lòe loẹt, không có địa chỉ sản xuất.
4. Phòng ngộ độc bởi hóa chất bảo vệ thực vật: rau, củ, quả tươi, đặc biệt thức ăn sống phải được ngâm kỹ rồi rửa lại vài lần bằng nước sạch hoặc dưới vòi nước chảy.
5. Phòng ngộ độc bởi thực phẩm có độc tự nhiên: không ăn nấm, củ, rau, quả hoang dại nghi có độc, sản phẩm động vật có độc (phủ tạng, và da cóc, cá nóc, …).
6. Phòng vi khuẩn sống sót làm thực phẩm biến chất, có hại: Không dùng đồ hộp lon phòng cứng ở hai đáy hộp, bị gỉ, móp méo; sữa, nước giải khát trong hộp giấy bị phơi ngoài nắng dù còn hạn sử dụng; nước giải khát, nước đóng chai bị biến màu, đục, có cặn.
7. Phòng vi khuẩn nhân lên trong điều kiện môi trường: thức ăn chín để qua bữa quá giờ nếu không không được bảo quản lạnh (dưới 10°C), phải được hâm lại kỹ hoặc chần nước sôi.
8. Phòng ô nhiễm chéo sang thực phẩm chế biến sẵn (thịt quay, luộc) để ăn ngay từ: cá, dụng cụ bán hàng như dao, thớt, đũa, thìa, que gắp đang chế biến thực phẩm sống hoặc chưa được làm sạch; bàn tay, trang phục của người bán hàng trực tiếp bị bẩn…
9. Không mua hàng bao gói sẵn không có địa chỉ nơi sản xuất, đóng gói và hàng hết hạn sử dụng.
10. Tránh ăn ở quán không có nước sạch hoặc cách xa nguồn nước sạch và không có tủ kính che đuổi ruồi, bụi, chất độc môi trường (nếu ở mặt đường, vĩa hè) hoặc không có lưới che ruồi, nhặng (nếu ở trong nhà, chợ có mái che).
II.BIỆN PHÁP VỆ SINH CHỦ YẾU ĐỀ PHÒNG NHIỄM BẨN THỰC PHẨM.
*10 NGUYÊN TẮC VÀNG CỦA WHO VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM.
Nguyên tắc 1.
Chọn thực phẩm an toàn. Chọn thực phẩm tươi. rau, quả ăn sống phải được ngâm và rửa kỹ bằng nước sạch. Quả nên gọt vỏ trước khi ăn. Thực phẩm đông lạnh để tan đá, rồi làm đông đá lại là kém an toàn.
Nguyên tắc 2.
Nấu chín kỹ thức ăn. Nấu chín kỹ hoàn toàn thức ăn, là bảo đảm nhiệt độ trung tâm thực phẩm phải đạt tới trên 70° C.
Nguyên tắc 3.
Ăn ngay sau khi nấu. Hãy ăn ngay sau khi vừa nấu xong, vì thức ăn càng để lâu thì càng nguy hiểm.
Nguyên tắc 4.
Bảo quản cẩn thận các thức ăn đã nấu chính. Muốn giữ thức ăn quá 5 tiếng đồng hồ, cần phải giữ liên tục nóng trên 60° C hoặc lạnh dưới 10° C. Thức ăn cho trẻ nhỏ không nên dùng lại.
Nguyên tắc 5.
Nấu lại thức ăn thật kỹ. Các thức ăn chín dùng lại sau 5 tiếng, nhất thiết phải được đun kỹ lại.
Nguyên tắc 6.
Tránh ô nhiễm chéo giữa thức ăn chín và sống, với bề mặt bẩn. Thức ăn đã được nấu chính có thể bị nhiễm mầm bệnh do tiếp xúc trực tiếp với thức ăn sống hoặc gián tiếp với các bề mặt bẩn (như dùng chung dao, thớt để chế biến thực phẩm sống và chín).
Nguyên tắc 7.
Rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và sau mỗi lần gián đoạn để làm việc khác. Nếu bạn bị nhiễm trùng ở bàn tay, hãy băng kỹ và kín vết thương nhiễm trùng đó trước khi chế biến thức ăn.
Nguyên tắc 8.
Giữ sạch các bề mặt chế biến thức ăn. Do thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn, bất kỳ bề mặt nào dùng để chế biến thức ăn cũng phải được giữ sạch. Khăn lau bát đĩa cần phải được luộc nước sôi và thay thường xuyên trước khi sử dụng lại.
Nguyên tắc 9.
Che đậy thực phẩm để tránh côn trùng và các động vật khác. Che đậy giữ thua75c phẩm trong hộp kín, chạn, tủ kính, lồng bàn… Đó là cách bảo vệ tốt nhấy. Khăn đã dùng che đậy thức ăn chín phải được giặt sạch lại.
Nguyên tắc 10.
Sử dụng nguồn nước sạch an toàn. Nước sạch là nước không màu, mùi, vị lạ và không chứa mầm bệnh. hãy đun sôi trước khi làm đá uống. Đặc biệt cẩm thận với nguồn nước dùng nấu thức ăn cho trẻ nhỏ.
Trên đây là nội dung phổ biến những kiến thức cơ bản trong việc thực hiện an toàn thực phẩm. Chú ý thực hiện các điều đơn giản về vệ sinh an toàn thực phẩm nói trên để đảm bảo đón một cái tết nguyên đán thật vui vẻ, lành mạnh, an toàn.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
‘
TUYÊN TRUYỀN PHÒNG CHỐNG
TAI NẠN THƯƠNG TÍCH

Trong những năm gần đây cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế xã hội. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan chức năng, gia đình và toàn xã hội quan tâm đặc biệt. Các điều kiện để trẻ em được học tập, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn. Công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em được tăng cường hơn, song tình trạng tai nạn thương tích đối với trẻ em vẫn chưa giảm, có thể nói đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em. Trẻ em bị tai nan thương tích thực sự đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, nó đã để lại hậu quả nặng nề về cho gia đình và xã hội. Tai nạn thương tích (TNTT) rất dễ xảy ra vì ở lứa tuổi các em thường hiếu động, thích tò mò, nghịch ngợm và chưa có kiến thức,kỹ năng phòng, tránh nên rất dễ bị tai nạn thương tích. Theo thống kê trong những năm qua một số nguy cơ TNTT như đuối nước, tai nạn giao thông…có chiều hướng gia tăng trong những kỳ nghỉ hè và đối tượng chủ yếu là trẻ nhỏ, học sinh, sinh viên.
Để từng bước hạn chế nguy cơ mắc và tử vong do TNTT và cùng tìm hiểu về TNTT và các biện pháp phòng tránh. Trong buổi chào cờ sáng thứ 2 ngày cô tổng phụ trách đội Hoàng Thị Hường đã tuyên truyền đến toàn thể các bạn học sinh trong trường.
Có hai nhóm lớn là: TNTT có chủ định và TNTT không chủ định
-Tai nạn thương tích có chủ định: Là những TNTT gây nên do có sự chú ý,(cố ý) của người bị TNTT hay của cả những người khác
-Tai nạn thương tích không chủ định: Là những tai nạn gây nên do sự không chú ý của những người bị TNTT hay của những người khác ở trẻ rất hay gặp loại TNTT này.
-TNTT do giao thông: là những trường hợp xảy ra do sự va chạm, năm ngoài ý muốn chủ quan của con người, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan người tham gia giao thông gây nên….
- Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, lửa, các TNTT da do các tia cực tím, phóng xạ, điện, chất hóa học, hoặc tổn thương phổi do khối xộc vào đó là trường hợp bỏng.
- Đuối nước: Là những trường hợp TNTT xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu) dẫn đến ngạt do thiếu Oxy hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong 24 giờ hoặc cần chăm sóc Y tế hoặc dẫn đến các biến chứng khác.
- Điện giật: Là những trường hợp TNTT do tiếp xúc với điện gây nên hậu quả bị thương hay tử vong.
- Ngã: Là TNTT do ngã, rơi từ trên cao xuống.
- Động vật cắn: Chấn thương do động vất cắn, húc, đâm phải...
- Ngộ độc: Là những trường hợp do hít vào, ăn vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần có chăm sóc của y tế (do thuốc, do hóa chất).
- Bạo lực: là hành động dùng vũ lực hăm dọa, hoặc đánh người của nhóm người, cộng đồng khác gây tai nạn thương tích có thể tử vong, tổn thương…
- Bom mìn và các vật nổ: Là TNTT khi tiếp xúc với bom mìn, các vật nổ, chất phát nổ
- Để phòng tránh tại nạn thương tích gây ra những hậu quả đáng tiếc mỗi chúng ta đều cần trang bị cho mình một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích như sau:
- Phòng ngã:
+ Không chạy nhảy, đùa nghịch; không gây gổ đánh nhau; không mang đến trường những vật sắc, nhọn nguy hiểm như: dao, súng cao su…..
- Phòng tránh tai nạn giao thông:
+ Thực tốt luật giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy….
+ Không tụ tập trước cổng trường…..
- Phòng tránh bỏng:
+ Phòng thí nghiệm phải có nội quy, hướng dẫn an toàn hóa chất, an toàn điện….
- Phòng tránh đuối nước:
+ Tìm hiểu luật đường thủy; Không tắm sông, ao, hồ.. khi đi qua sông đi đò phải mặc áo phao cứu sinh. Phải học cách bơi có người hướng dẫn…
- Phòng tránh điện giật:
+ Thực hiện an toàn để đảm bảo.
- Phòng tránh ngộ độc thức ăn: Phải ăn thức ăn chín, uống nước đun sôi. Không ăn quà, thức ăn chưa biết rõ nguồn gốc xuất xứ, hết hạn sử dụng….
Cứ mỗi dịp hè đến, các nguy cơ làm cho trẻ em bị tai nạn thương tích có xu hướng gia tăng. Do vậy thông qua buổi tuyên truyền mong các bạn hãy cùng nhau thực hiện tốt các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho bản thân và mọi người.
BÀI TUYÊN TRUYỀN DINH DƯỠNG DÀNH
CHO LỨA TUỔI HỌC SINH

Nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi học đường có vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo không chỉ sự phát triển của cơ thể trẻ mà còn đáp ứng được các hoạt động thể lực đa dạng và khả năng học tập của các em.
* Chế độ ăn
Nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi học đường có vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo không chỉ sự phát triển của cơ thể trẻ mà còn đáp ứng được các hoạt động thể lực đa dạng và khả năng học tập của các em.
Trước hết cần đảm bảo đủ năng lượng tức là trẻ cần được ăn no, năng lượng được cung cấp chủ yếu qua cơm và các sản phẩm được chế biến từ gạo như bún, bánh phở… thỉnh thoảng nên cho các cháu ăn thêm ngô, khoai, sắn là những thực phẩm trong nhóm ngũ cốc vừa cung cấp chất bột vừa là nguồn chất xơ tốt.
Lượng chất đạm trong khẩu phần ăn của trẻ cần nhiều hơn người lớn, nhu cầu đạm ở lứa tuổi này cần 3-3,5g/kg thể trọng ( Trung bình khoảng 30-50g/ngày/trẻ) . Nên cho trẻ ăn đa dạng các thức ăn giàu đạm như thịt (lợn, bò, gà, vịt, ngan, chim…); cá (quả, chép, trê, trắm, rô…); cá biển (chim, thu, nục, hồng…); trứng (gà, vịt, chim cút…); sữa (sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành); tôm, cua, đậu đỗ. Lượng đạm cần có đủ vì chất đạm tham gia vào cấu trúc mọi tế bào, cái lõi của sự phát triển, cái nền của sức khỏe trẻ em. Tuy nhiên cũng không nên cho trẻ ăn quá nhiều đạm vì có thể gây gánh nặng cho trẻ nhất là khi trẻ uống thiếu nước. Các sản phẩm chuyển hóa trung gian của lượng đạm dư thừa sẽ gây độc hại cho cơ thể.
Dầu mỡ cũng cần cho bữa ăn của trẻ, dầu mỡ giúp cho thức ăn ngon hơn, cung cấp năng lượng cao và là dung môi giúp hấp thu các vitamin A, D, E, K là những vitamin cần cho sự phát triển của trẻ, nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ.
Các chất khoáng và vitamin cũng rất cần thiết cho trẻ ở lứa tuổi này, chất khoáng cần cho sự tạo xương, tạo máu và đem lại sự lành mạnh cho các hoạt động chức năng sinh lý của các bộ phận trong cơ thể. Hàng ngày trẻ 6-10 tuổi cần 400-500 mg canxi, nguồn cung cấp canxi không thiếu nhưng vấn đề là cần tỷ lệ thích hợp giơax canxi và photpho mới giúp canxi được hấp thu tốt, tỷ lệ Ca/P tốt nhất là 1,5-2. Để đạt được tỷ lệ canxi/P thích hợp bơax ăn của trẻ cần có sữa, tôm, cua, cá thường xuyên.
Ưu tiên cho trẻ nguồn thức ăn động vật là nhằm đảm bảo đủ sắt cho cơ thể, sát trong nguồn thức ăn này có hàm lượng cao và dễ hấp thu.
Mọi vitamin đều cần cho trẻ, đặc biệt về nhu cầu vitamin A và vitamin C.
VitaminA và vitaminC rất cần cho sự phát triển, sự tạo máu, tăng cường hệ miễn dịch. Nhu cầu vitaminC ở tuổi nhi đồng cần từ 55-60mg/ngày và phải được cung cấp đủ hàng ngày, ở nước ta rau quả vừa là nguồn cung cấp vitaminA, vitaminC cùng một số chất khoáng và vitamin khác. Để đảm bảo nhu cầu vitamin cần cho trẻ ăn rau, quả thường xuyên, nên cho ăn nhiều loại rau quả theo mùa.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN PHÒNG CHỐNG
MỘT SỐ BỆNH HỌC ĐƯỜNG

Các bạn học sinh yêu quý! bệnh tật học đường đang là mối quan tâm lo lắng của nhiều bậc phụ huynh. Hiện nay tình trạng các bạn học sinh chúng ta mắc các tật liên quan đến học đường rất lớn, chỉ vì những thói quen xấu trong tư thế ngồi học.
I. Bệnh gù vẹo cột sống:
Vẹo cột sống là tình trạng cột sống bị uốn cong sang bên phải hoặc bên trái theo hình chữ C hay chữ S (thuận hoặc ngược). Cong cột sống là khi cột sống xuất hiện những đoạn cong bất thường theo 2 dạng: Gù (cột sống phần ngực uốn cong quá mức ra phía sau); Ưỡn (cột sống phần thắt lưng uốn cong quá mức ra phía trước).
Bệnh cong vẹo cột sống không phải bệnh nguy hiểm, không gây tác hại nghiêm trọng tức thời, tuy nhiên bệnh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của một thế hệ trong tương lai.
Nguyên nhân dấn đến cong vẹo cột sống:
- Ngồi học không đúng tư thế (ngồi học không ngay ngắn, nằm, quỳ,nghiêng khi học bài).
- Kích thước bàn ghế không phù hợp (qua cao, quá thấp, quá chật).
- Lao động quá nặng, quá nặng, bế cắp nách em bé, đeo cặp sách quá nặng hoặc không đều 2 bên vai hoặc cắp cặp vào nách.
- Mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng.
* Để phòng tránh cong vẹo cột sống cho học sinh, cần thực hiện các biện pháp sau:
- Chỗ ngồi học phải đủ ánh sáng, tư thế ngồi phải ngay ngắn;
- Bàn ghế học sinh phải phù hợp với lứa tuổi: chiều rộng của mặt ghế phải rộng hơn xương chậu 10 cm; chiều sâu của mặt ghế phải bằng 2/3 chiều dài của đùi; chiều cao của mặt ghế phải bằng chiều cao của cẳng chân cộng với chiều cao của bàn chân và của dép.
- Chiều cao của mặt bàn so với mặt ghế phải phù hợp để các em có thể ngồi đặt tay lên bàn thoải mái, không bị nhô vai lên hay hạ vai xuống. Khoảng cách từ lưng ghế đến mép bàn phải lớn hơn đường kính trước sau của lồng ngực 3-5 cm để có thể tựa lưng vào ghế.
- Nên đeo cặp bằng hai quai sau lưng, không nên đeo hay xách cặp một bên vai.
Ngoài ra cũng cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý; lao động và tập luyện vừa sức.
- Tại các hộ gia đình, phụ huynh cần chuẩn bị chỗ ngồi học tập, bàn ghế phù hợp, đủ ánh sáng cho các em, giảm áp lực mang cặp sách nặng khi trẻ đến trường...
- Các bạn học sinh cần ngồi học đúng tư thế ở nơi đủ ánh sáng, đeo xách cặp, lao động, tập luyện hợp lý,…
II. Bệnh cận thị học đường:
Bệnh cận thị hoàn toàn có thể phòng được nếu có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, gia đình và nhà trường. Sau đây là một số chỉ dẫn cần được tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:
1. Giữ đúng tư thế ngồi khi học
Ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểu học, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn. Thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc hoặc viết.
2. Lớp học, góc học tập phải đủ những điều kiện cần thiết.
- Kích thước phòng học; cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phải phù hợp với lứa tuổi để học sinh có thể ngồi đúng tư thế và giữ đúng khoảng cách từ mắt đến sách vở.
- Đảm bảo đủ ánh sáng: nơi tối nhất không dưới 30 lux, nơi sáng nhất không quá 700 lux.
- Chữ viết trên bảng và trong sách vở phải rõ nét, chiều cao ít nhất của chữ viết là 1/200 khoảng cách từ mắt tới chữ. Ví dụ, khoảng cách từ bảng tới học sinh là 8 m thì chiều cao tối thiểu của cỡ viết trên bảng phải là 4 cm. Chữ trong vở phải có chiều cao ít nhất 1,75 mm cho khoảng cách từ mắt đến vở là 35 cm.
- Khi đọc sách buổi tối, cần đèn đủ sáng và có chụp phản chiều. Không dùng đèn ống neon, nên dùng bóng điện dây tóc.
- Không viết mực đỏ, mực xanh lá cây. Không đọc sách có chữ quá nhỏ in trên giấy vàng hoặc giấy đen, vì tỷ lệ tương phản giữa chữ và nền quá nhỏ, khiến mắt bị mệt.
- Duy trì mỗi tiết học 45 phút, sau đó nghỉ giải lao, đưa mắt nhìn xa, hết co thắt thị giác rồi mới bước vào giờ học tiếp theo.
3. Bỏ những thói quen có hại cho mắt .
- Không nằm, quỳ để đọc sách hoặc viết bài.
- Không đọc sách báo, tài liệu khi đang đi trên ô tô, tàu hỏa, máy bay.
- Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp. Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem.
- Không tự ý dùng kính đeo mắt không đúng tiêu chuẩn. Khi đeo kình cần tuân thủ hướng dẫn của nhà chuyên môn.
* Khi có biểu hiện: Cảm thấy mỏi mắt khi đọc sách, nhìn mờ khi đọc chữ hoặc nhìn một vật ở xa. Nên bảo bố mẹ đưa chúng ta đến ngày trung tâm chuyên khoa về mắt để khám và đièu trị kịp thời.
Trên đây là những biện pháp và cách phòng chống bệnh gù vẹo cột sống và bệnh cân thị học đường. Rất mong rằng các bạn thực hiện tốt những biện pháp đó.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
TUYÊN TRUYỀN CHĂM SÓC SỨC KHỎE
RĂNG MIỆNG CHO HỌC SINH.

Ngoài việc cho học sinh súc miệng Fluor hàng tuần. Đánh răng là việc làm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, vừa dễ thực hiện lại hữu hiệu giúp loại bỏ mảng bám trên bề mặt răng, giúp ngăn ngừa sâu răng và mang lại cho bạn một hàm răng khỏe mạnh, nhưng đánh răng như thế nào là đúng cách thì không phải ai cũng biết. Do vậy, các thao tác chải răng không đúng cách hoặc quá tích cực chẳng những không làm sạch răng mà còn có thể làm mòn lớp men răng và gây hiện tượng nhạy cảm răng. Ngoài ra chải răng quá mạnh còn có thể làm tổn thương nướu và tụt nướu. Vì vậy đánh răng như thế nào là đúng cách?
Hướng dẫn cho các em những bước đánh răng đúng cách:
Bước 1: Sử dụng bàn chải đánh răng có lông mềm, dấp một ít nước cho ẩm và để một lớp mỏng kem đánh răng lên bề mặt lông bàn chải, nên chọn loại kem có chứa flour.
Bước 2: Khi bắt đầu đánh răng nên chải hàm trên, ở bên trái trước( mặt gần má ) theo chiều kim đồng hồ, đặt lông bàn chải hướng về đường viền nướu răng một góc 45 0, rồi dịch chuyển bàn chải theo vòng tròn ngắn trên bề mặt răng khoảng 20 giây.
Bước 3: Dùng lông bàn chải ‘’ quét ’’ từ đường viền nướu răng đến bề mặt răng để làm sạch các mảng bám thức ăn trong kẽ răng và khe nướu.
Bước 4: Tiếp tục chải ‘’ xoay tròn’’ theo chiều kim đồng hổ đối với hàm dưới bên trái. Lặp lại bước 2 và 3 cho bề mặt răng ở phía trong của hàm trên và hàm dưới.
Bước 5: Chải mặt trong của răng cửa hàm trên ( gần lưỡi ) bằng cách sử dụng đỉnh đầu bàn chải và dùng lông bàn chải để chải nhẹ từ đường viền nướu răng xuống bề mặt của răng. thực hiện động tác này 2-3 lần.
Bước 6: Đối với mặt trong của răng trước hàm dưới, thì cũng đặt lông đỉnh đầu bàn chải về đường viền nướu răng, sau đó chải nhẹ lên. thực hiện 2-3 lần.
Bước 7: Chải mặt nhai của răng hàm trên và dưới bằng cách xoay tròn bàn chải.
Bước 8:Chải lưỡi và mặt trong của má: xoay nhẹ nhàng lông bàn chải theo chuyển động tròn trên bề mặt lưỡi và phía trong má khoảng 30 giây.
Bước 9: Súc miệng bằng nước sạch hoặc cũng có thể dùng nước súc miệng.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN CHĂM SÓC MẮT
HIỆU QUẢ CHO HỌC SINH.

Ánh sáng nguy hiểm phát ra từ màn hình các thiết bị điện tử như tivi, máy tính hay smartphone là tác nhân hàng đầu gây hại cho mắt. Bên cạnh đó, tỷ lệ mắc các tật khúc xạ ở học sinh, sinh viên nước ta đang gia tăng nhanh chóng, thị lực của các bạn trẻ ngày càng giảm sút. Áp lực thi cử và sức ép từ gia đình, trường lớp lên thành tích học tập khiến đôi mắt của các bạn hoạt động quá tải.
Do đó chăm sóc mắt cho học sinh, sinh viên bằng việc cân bằng giữa học tập và nghỉ ngơi là việc làm rất cần thiết để có một đôi mắt sáng khỏe.
Đôi mắt phải làm việc trung bình từ 16 - 18h/ngày, kể cả khi bạn đang thư giãn hay giải lao, mắt cũng có thể phải điều tiết cho những hoạt động đó. Vậy chúng ta phải làm gì để chăm sóc đôi mắt?
Hạn chế sử dụng máy vi tính, smartphone, ipad,...
Theo những thống kê mới nhất của các tổ chức y tế, 70% học sinh, sinh viên bị bệnh về mắt trong đó, 53% bị cận thị, 17% bị loạn thị… Đây là một con số rất đáng báo động và cần có những giải pháp cũng như kiến thức chuyên môn để ngăn ngừa tình trạng này.
Các bệnh về mắt không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý, trí tuệ của thế hệ trẻ trong tương lai.
Hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, bởi vậy việc loại bỏ hoàn toàn các thiết bị điện tử trong học tập và giải trí là điều không thể. Thay vào đó, để chăm sóc mắt cho học sinh, sinh viên chúng ta nên ưu tiên giải trí bằng âm nhac, vận động thể lực hơn là giải trí bằng mắt. Trường hợp bắt buộc phải thao tác trên máy tính thì có những cách sau đây:
- Áp dụng quy tắc 20-20-20: sau 20 phút làm việc với máy tính, hãy nhìn vào một vật nào đó trong 20 giây ở cách xa 20 feet (khoảng 6m). Sự nghỉ ngơi này sẽ giúp mắt và hệ thần kinh được thư giãn.
- Phóng to chữ.
Ngoài ra, những tài liệu dài và có nhiều chữ các bạn có thể in ra để đọc thay vì đọc trên máy tính hay ipad, … để bảo vệ đôi mắt nhất là vào mùa thi cử. Đồng thời, chú trọng chăm sóc mắt từ bên trong bằng cách bổ sung dưỡng chất chuyên biệt cho mắt.
Giữ khoảng cách mắt hợp lý khi đọc và viết
Đọc và viết đúng khoảng cách quy định cũng giúp chăm sóc và bảo vệ mắt, giảm nguy cơ cận thị. Khoảng cách đọc sách và viết với học sinh là 25-40cm. Việc đọc hoặc viết quá gần sẽ làm hệ thống thị giác phải nỗ lực điều tiết, gia tăng độ cận thị.
Để mắt nghỉ ngơi
Ngủ đủ giấc, tránh thức khuya, stress hoặc học tập và làm việc ở khu vực thiếu sáng.
Học bài khoảng 30 – 45 phút nên đứng dậy đi lại, để mắt thư giãn.
Bổ sung thực phẩm tốt cho mắt
Bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A tốt cho mắt vào khẩu phần ăn hàng ngày như: trứng, cá hồi, bông cải xanh, …

Bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A giúp bổ mắt.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN “ VỆ SINH CÁ NHÂN”
Một trong những cách phòng tránh dịch bệnh đơn giản và ít tốn kém nhất là tạo thói quen vệ sinh cá nhân tốt cho trẻ ngay từ lứa tuổi trẻ nhà trẻ, những công việc vệ sinh hàng ngày tưởng như rất đơn giản như đánh răng, rửa mặt, rửa tay....nhưng lại rất cần thiết trong đời sống con người.
Làm tốt việc vệ sinh cá nhân không chỉ giúp tạo ấn tượng tốt với những người xung quanh mà còn giúp con chúng ta duy trì một sức khỏe tốt. Vệ sinh đúng cách còn có tác dụng phòng bệnh rất tốt. Để hiểu rõ hơn lợi ích của việc vệ sinh cá nhân cho trẻ, hôm nay tôi sẽ cùng các bậc phụ huynh tìm hiểu về cách hướng dẫn vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non.
Để thực hiện việc vệ sinh cá nhân đúng cách chúng ta cần lưu ý những điểm sau:
1. Hướng dẫn trẻ đánh răng ít nhất 2 lần/ ngày
Theo các chuyên gia, để phòng bệnh sâu răng cũng như các bệnh khác liên quan đến răng miệng, đánh răng sau mỗi bữa ăn là biện pháp bảo vệ răng lý tưởng nhất. Tuy nhiên, nếu con bạn không thể thực hiện điều đó, hãy cố gắng đánh răng ít nhất 2 lần (buổi sáng sau khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ).
Chải răng cũng phải đi kèm với vệ sinh lưỡi sạch sẽ nếu bạn muốn con mình có một hơi thở thơm mát. Ngoài ra, phụ huynh cũng nên hướng dẫn trẻ dùng chỉ nha khoa ít nhất 1 lần/ ngày (vào cuối ngày) để loại bỏ những mảng bám khó chịu ở những kẽ răng, nơi mà bàn chải không thể vào được.
2. Hướng dẫn trẻ rửa mặt và cổ vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ
Chắc hẳn không nhiều phụ huynh biết được nguyên tắc này. Cho dù buổi tối con bạn không đi đâu ra khỏi nhà, rửa mặt trước khi đi ngủ vẫn là một việc làm cần thiết, nhất là với các em tuổi nhỏ. Thực hiện tốt biện pháp vệ sinh cá nhân này sẽ giúp các có làn da sáng mịn, hồng hào.
3. Hãy dạy trẻ nên che miệng mỗi khi hắt xì hơi hoặc ho
Để tạo ấn tượng tốt trước đám đông, bạn nên dạy trẻ thực hiện nghiêm túc nguyên tắc trên. Hãy sử dụng một chiếc khăn giấy, trong trường hợp khẩn cấp có thể dùng tay che miệng, để tránh làm lây lan mầm bệnh sang những người xung quanh. Hãy thử tưởng tượng xem, nếu bạn không che miệng lại, vi khuẩn có thể bắn sang người đối diện, và bạn có thể bị cho là một kẻ thật mất vệ sinh và không có văn hoá.
4.Dạy trẻ tắm ít nhất 1 lần/ ngày.
Cơ thể chúng ta hàng ngày đều đổ mồ hôi, ngay cả khi thời tiết mát mẻ. Bạn không cảm nhận thấy mùi cơ thể không có nghĩa là nó không tồn tại, do đó, tốt nhất mỗi ngày chúng ta nên hướng dẫn dạy trẻ tắm 1 lần để “khử” mùi khó chịu này. Hoặc bạn cũng có thể sử dụng thuốc khử mùi cơ thể cho con bạn nhưng hãy cẩn thận với hàng giả kém chất lượng.
5. Thường xuyên nhắc nhở trẻ rửa tay sạch sẽ
Chúng ta cần thường xuyên nhắc nhở trẻ rửa tay thường xuyên, đúng cách. Đặc biệt cần rửa tay trước khi ăn và rửa tay ngay sau khi đi vệ sinh. Thói quen này sẽ giúp con bạn không bị lây nhiễm mầm bệnh. Cẩn thận hơn nữa, bạn có thể sử dụng khăn giấy để tắt, mở vòi nước hoặc mở cửa ở những nơi công cộng, nhiều người sử dụng.
6. Mắt: trừ trường hợp bị ngứa rát
Không cần phải rửa mắt nếu như không có vấn đề gì xảy ra. Nếu như mắt bị ngứa và cộm, hãy nhỏ dung dịch muối rửa mắt.
7. Tai: Cẩn thận khi dùng tăm bông ngoáy tai
Dùng tăm bông ngoáy tai sau khi tắm là thói quen của nhiều người. Tuy nhiên, khi sử dụng dụng cụ vệ sinh này, hãy thật cẩn thận để tránh làm tổn thương màng nhĩ.
Tuyệt đối không rửa tai khi tai bị đau, có dấu hiệu mưng mủ, chảy máu, viêm tai hay những vấn đề khác. Không soi tai để lấy ráy tai vì việc này rất nguy hiểm.
Hy vọng sau buổi tuyên truyền ngày hôm nay học sinh sẽ có thêm nhiều kiến thức và thực hiện tốt hơn nữa việc thực hiện vệ sinh cá nhân.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
TUYÊN TRUYỀN VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG NHÀ TRƯỜNG
XANH - SẠCH - ĐẸP
Giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp là một trong những nội dung quan trọng trong công tác giáo dục ở nhà trường. Việc làm này đã góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đối với các em học sinh, đồng thời tạo hiệu ứng cho toàn cộng đồng, hướng đến các mục tiêu phát triển môi trường bền vững.
Thời gian qua nội dung giáo dục môi trường vào kế hoạch dạy học thông qua hình thức khai thác các nội dung giáo dục môi trường có sẵn trong sách giáo khoa, sách tham khảo của các môn học trong chương trình chính khóa; coi việc xây dựng nhà trường xanh, sạch, đẹp là một trong những tiêu chí đánh giá thi đua của đơn vị và là nội dung cơ bản của việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
Không chỉ vậy, công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường luôn được chú trong bằng nhiều hình thức: Treo băng rôn, áp phích, khẩu hiệu; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường; phối hợp với địa phương tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày môi trường thế giới; Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường; chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn…
Các trường học cũng duy trì có hiệu quả phong trào “Ngày Chủ nhật xanh - sạch - đẹp”, chú trọng nâng cao chất lượng phong trào, tăng tần suất tổ chức thực hiện tổng dọn vệ sinh, chăm sóc công trình măng non, triển khai nhiều hoạt động giáo dục thiết thực để nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, chăm sóc cây xanh, cảnh quan môi trường xung quanh… với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Các hoạt động ngoại khóa như ngày hội “Nước sạch và vệ sinh môi trường”; thi “Rung chuông vàng”, thi vẽ tranh về bảo vệ môi trường; hội trại xanh; thi vẽ tranh “Em yêu thành phố quê hương”; ngày hội “Học sinh chung tay bảo vệ môi trường”; ngày hội “Tái chế vì bệnh nhi ung thư”… đã góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh.
Nhờ vậy, kết quả mang lại đáng ghi nhận. Ở bậc học mầm non, việc giáo dục môi trường đã được tổ chức, thực hiện qua chuyên đề “Bé làm quen với môi trường xung quanh”, thông qua các hoạt động vui chơi theo phương châm “Học mà chơi, chơi mà học” nhằm cung cấp và hình thành cho các cháu những hiểu biết đơn giản về môi trường sống, biết giữ gìn sức khỏe bản thân, có hành vi ứng xử phù hợp để bảo vệ môi trường.
Ở bậc tiểu học, thông qua các giờ học chính khóa và ngoại khóa, giáo viên giáo dục cho các em ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, nâng cao lòng yêu thiên nhiên, đất nước ...
Để công tác giáo dục môi trường trong trường học tiếp tục phát huy hiệu quả, sẽ tiếp tục gắn việc giáo dục môi trường với việc triển khai thực hiện cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; giáo dục môi trường phải đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; thường xuyên mở các chuyên đề bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho giáo viên về giáo dục môi trường nhằm nâng cao khả năng tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường trong các giờ học chính khóa và tích hợp về giáo dục môi trường trong giảng dạy các môn chính khóa… Có như vậy, học sinh sẽ có ý thức trong việc bảo vệ môi trường.
Chia sẻ về tầm quan trọng của việc đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, giáo dục môi trường từ trong trường học, các chuyên gia cho rằng: Trường học là môi trường tốt nhất cho việc giáo dục môi trường. Do đó, giáo dục về môi trường cần được thực hiện từ cấp cơ sở. Nếu học sinh ngay từ những ngày đầu cắp sách đến trường đã có ý thức về môi trường thì tự học sinh sẽ tuyên truyền những kiến thức này cho người thân và cộng đồng.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt.
I. Bệnh sốt xuất huyết là gì?
- Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt.
- Ở Việt Nam, bệnh lưu hành rất phổ biến, ở cả 4 miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9, 10.
II. Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết:
- Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.
- Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội.
- Bệnh sốt xuất huyết do vi rút gây ra với 4 típ gây bệnh, một người có thể mắc nhiều lần do nhiễm các typ vi rút khác nhau.
III. Đặc điểm của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết:
- Muỗi có màu đen, thân và chân có những đốm trắng thường được gọi là muỗi vằn.
- Muỗi vằn cái đốt người vào ban ngày, đốt mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối.
- Muỗi vằn thường trú đậu ở các góc/xó tối trong nhà, trên quần áo đặc biệt quần áo cod mùi mồ hôi, chăn màn, dây phơi và các đồ dùng trong nhà.
- Muỗi vằn đẻ trứng, sinh sản ở các ao, vũng nước hoặc các dụng cụ chứa nước sạch ở trong và xung quanh nhà như bể nước, chum, vại, xô, chậu, giếng nước, hốc cây, hòn non bộ... các đồ vật hoặc đồ phế thải có chứa nước như lọ hoa, bát nước kê chạn, lốp xe, vỏ dừa, vỏ sữa chua, máng thoát nước mưa bị tắc...Muỗi vằn phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng vượt trên 20º C.
IV. Biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, kéo dài 2 - 7 ngày.
- Đau đầu dữ dội ở vùng trán.
- Đau hốc mắt, đau người, các khớp
- Buồn nôn
- Phát ban
- Xuất huyết: dưới da, chảy máu mũi, ra kinh nguyệt bất thường, xuất huyết tiệu hóa….
V. Nguyên nhân tử vong:
- Shock do thoát dịch ra khỏi lòng mạch máu
- Xuất huyết nội tạng: tim, não, thận, xuất huyết tiêu hóa…
VI. Cần làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết:
1. Đi khám tại cơ sở y tế để chẩn đoán và điều trị theo đơn bác sĩ; khám lại theo hẹn
2. Theo dõi và chăm sóc tại cộng đồng:
- Hạ sốt khi nhiệt độ cơ thể từ 38,5 độ C trở lên bằng Paracetamol, lau người bằng nước ấm khi sốt cao
- Uống nhiều nước : dung dịch Oresol, nước trái cây…
- Ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu: Cháo, súp, sữa, thực phẩm giàu vitamin C
- Nằm màn cả ngày và đêm, nghỉ ngơi tại giường
- Theo dõi hàng ngày các triệu chứng cho đến khi hết sốt 2 ngày
3. Đến ngay cơ sở y tế khi có các dấu hiệu nguy hiểm sau:
- Mệt mỏi bất thường, nhiệt độ hạ nhanh dưới 36C; da xanh, lạnh và ẩm
- Chảy máu mũi hoặc chảy máu lợi, Có nhiều nốt xuất huyết trên da
- Nôn liên tục hoặc nôn ra máu
- Đi ngoài phân đen
- Ngủ li bì hoặc quấy khóc (trẻ em)
- Đau bụng
- Khát nhiều (khô miệng)
- Khó thở
VII. Cách phòng bệnh sốt xuất huyết:
Cách phòng bệnh tốt nhất: là diệt muỗi, lăng quăng/bọ gậy và phòng chống muỗi đốt.
- Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách:
+ Đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng.
+ Thả cá hoặc mê zô vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại...) để diệt lăng quăng/bọ gậy.
+ Thau rửa các dụng cụ chứa nước vừa và nhỏ (lu, chum, xô chậu…) hàng tuần.
+ Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá..., dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến.
+ Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông.
- Phòng chống muỗi đốt:
+ Mặc quần áo dài tay.
+ Ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngày.
+ Dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi...
+ Dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi.
+ Cho người bị sốt xuất huyết nằm trong màn, tránh muỗi đốt để tránh lây lan bệnh cho người khác.
- Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.
Hiện nay dịch sốt xuất huyết đang gia tăng tại địa bàn xã và dịch Covid bùng phát trở lại, yêu cầu học sinh thường xuyên vệ sinh lớp học và nơi mình cư trú, không có bọ gậy không có sốt xuất huyết. HS chủ động tiêm chủng vacin Covid để phòng bệnh hiểu quả.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
| |
BÀI TUYÊN TRUYỀN GIÁO DỤC SỨC KHỎE PHÒNG TRÁNH
CÁC BỆNH HỌC ĐƯỜNG
I/ Phòng tránh bệnh cận thị học đường:
Cận thị là một loại tật khúc xạ phổ biến rất hay gặp ở lứa tuổi học sinh. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và thói quen sinh hoạt, tỷ lệ cận thị ngày càng gia tăng gây nhiều ảnh hưởng đến chất lượng sống và kết quả học tập của học sinh.
1. Ảnh hưởng:
Trong những năm gần đây tật cận thị ở lứa tuổi học sinh đang có chiều hướng gia tăng rõ rệt. Cận thị là mắt chỉ nhìn thấy vật ở gần chứ không nhìn thấy vật ở xa. Biểu hiện ban đầu của bệnh là mỏi mắt, căng mắt, nhức đầu, khó chịu khi đọc sách, tiếp theo là nhìn mờ, không nhìn thấy vật ở xa. Bệnh cận thị gây nhiều tác hại như: Hạn chế sự phát triển toàn diện của học sinh; hạn chế các hoạt động thể dục thể thao, nâng cao sức khoẻ; hạn chế sự lựa chọn ngành nghề trong cuộc sống, hạn chế một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày của học sinh và hạn chế một phần kết quả học tập do mắt chóng bị mỏi, do nhìn bảng không rõ, viết và đọc chậm; dễ bị tai nạn trong lao động, sinh hoạt.
2. Nguyên nhân:
- Hai nguyên nhân chính gây bệnh cận thị là do bẩm sinh và mắc phải. Bệnh bẩm sinh do yếu tố di truyền, cha mẹ cận thị thì con cũng bị cận thị. Loại này có đặc điểm là độ cận cao, có thể trên 20 đi ốp, độ cận tăng nhanh cả khi đã ở tuổi trưởng thành, khả năng phục hồi thị lực của bệnh nhân kém dù được điều trị
- Quá trình học tập và giải trí thiếu khoa học ở tuổi học sinh có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng điều tiết của đôi mắt, dẫn tới cận thị học đường. Tật cận thị có 2 biểu hiện chính: Độ hội tụ của mắt tăng và trục trước sau của mắt dài quá giới hạn bình thường. Hậu quả là thị lực giảm, mắt không nhìn rõ vật ở xa, chỉ thấy vật ở gần. Bệnh cận thị hoàn toàn có thể phòng được nếu có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, gia đình và nhà trường. Sau đây là một số chỉ dẫn cần được tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:
3. Cách phòng:
a. Giữ đúng tư thế ngồi khi học:
Ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25cm đối với học sinh tiểu học, 30cm với học sinh trung học cơ sở, 35cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn. Thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọchoặcviết.
b. Lớp học, góc học tập phải đủ những điều kiện cần thiết:
- Đảm bảo chiếu ánh sáng tốt, nhà trường phải đảm bảo điều kiện các lớp học theo đúng quy định, cụ thể: Phòng học cần chiếu ánh sáng đồng đều, tăng cường chiếu sáng tự nhiên. Tổng diện tích cửa phòng học không dưới 1/5 diện tích phòng học. Trần, tường phải sáng màu. Tránh các đồ vật có bề mặt bóng gây loá. Bóng điện phải được bố trí phù hợp và treo cao cách mặt bàn 2,8 mét, tránh sấp bóng, tránh loá. Hướng ngồi của học sinh không được quay lưng ra cửa. Cấu trúc và sắp xếp bảng, bàn ghế phải đảm bảo yêu cầu: Bảng học màu xanh lá cây hoặc màu đen và được chống loá. Kích thước bảng: Dài 1,8-2 mét, rộng 1,2-1,5 mét được treo ở giữa lớp học, mép dưới cách nền 0,8-1 mét. Chữ viết trên bảng chiều cao không dưới 4cm. Bàn học đầu cách bảng 1,7-2 mét, bàn học cuối cách bảng không quá 8 mét. Chiều cao của bàn ghế phù hợp với chiều cao của học sinh.
- Để phòng tránh bệnh cận thị học đường, trước hết phải bố trí chế độ học tập của học sinh hợp lý, kết hợp học tập, vui chơi, nghỉ ngơi, lao động để mắt được nghỉ. Cần giáo dục cho học sinh có ý thức vệ sinh trong học tập, đồng thời tăng cường nâng cao sức khoẻ qua chế độ dinh dưỡng đủ chất, bổ sung vitamin A cho học sinh. Hàng năm nhà trường nên tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, kiểm tra thị lực cho học sinh để phát hiện sớm các trường hợp mắt tật khúc xạ nói chung và cận thị nói riêng để có biện pháp điều trị phù hợp. Khi bị cận thị phải đeo kính đúng số thầy thuốc đã chỉ định.
c. Bỏ những thói quen có hại cho mắt:
- Không nằm, quỳ để đọc sách hoặc viết bài.
- Không đọc sách báo, tài liệu khi đang đi trên ô tô, tàu hỏa, máy bay.
- Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp. Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem.
- Không tự ý dùng kính đeo mắt không đúng tiêu chuẩn. Khi đeo kình cần tuân thủ hướng dẫn của nhà chuyên môn.
II/ Bệnh cong vẹo cột sống:
Trước hết các em phải hiểu được bệnh cong vẹo cột sống là những biến dạng của cột sống làm lệch hình thân thể.
Có hai loại đó là cong cột sống và vẹo cột sống
- Cong cột sống: cột sống có 4 hình thái
+ Gù: Đoạn cổ và lưng cong quá nhiều
+ Ưỡn: Đoạn thắt lưng cong quá nhiều
+ Còng: Đoạn thắt lưng cong ngược ra trước.
+ Bẹt: Đoạn thắt lưng không còn độ song sinh lý.
- Vẹo cột sống: Nhìn từ phía sau, nếu cột sống lệch sang bên trái hoặc bên phải. thường gặp 2 dạng.
+ Vẹo đều sang bên trái hoặc bên phải, chỉ có một đoạn cong hình chữ C
+ Vẹo với hai đoạn cong đối lập nhau, ví dụ đoạn cổ- lưng cong sang phải hình chữ S.
1.Nguyên nhân:
- Ngồi học không đúng tư thế (ngồi học không ngay ngắn, nằm, quỳ, nghiêng khi học bài)
- Kích thước bàn ghế không phù hợp (quá cao hay quá thấp, quá chật, thiếu chỗ ngồi học)
- Lao động quá nặng, quá sớm, bế nách em bé, đeo cặp sách quá nặng hoặc không đều hai bên vai hoặc cắp cặp vào nách.
- Mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng.
2. Ảnh hưởng:
- Gây lệch trọng tâm cơ thể, làm học sinh ngồi học không được ngay ngắn, gay cản trở cho việc đọc, viết, căng thẳng thị giác và làm trí não kém tập trung dẫn đến ảnh hưởng xấu kết quả học tập.
- Gây ảnh hưởng đến hoạt động của tim, phổi và sự phát triển của khung xương chậu (đặc biệt đối với em gái sẽ gây ảnh hưởng đến sinh đẻ khi trưởng thành)
- Cơ thể lệch , bước đi không cân đối, bước đi không đều ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
3. Phòng chống bệnh cong vẹo cột sống:
- Tư thế ngồi học đúng, ngay ngắn.
- Bàn ghế phải phù hợp với tầm vóc học sinh
- Không nên xách cặp hoặc đeo cặp quá nặng một bên vai, nên đeo cân hai vai.
- Lao động và tập luyện vừa sức, cân đối
- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý.
Trên đây là những biện pháp và cách phòng chống bệnh cong vẹo cột sống và bệnh cân thị học đường. Cô rất mong rằng các bạn thực hiện tốt những biện pháp đó.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN DỊCH BỆNH CÚM
TRONG TRƯỜNG HỌC
Trước tình hình biến đổi khí hậu đang xảy ra, thời tiết thay đổi thất thường, bệnh cảm cúm có nguy cơ lây lan và bùng phát rất cao. Đặc biệt trong những cơ sở giáo dục – trường học là nơi tập trung đông người thì nguy cơ bùng phát dịch càng cao hơn. Chính vì vậy để có biện pháp phòng chống dịch tốt nhất, đảm bảo sức khỏe cho các sinh viên, thì quan trọng là các sinh viên cần biết bệnh cúm là gì? Cơ chế lây bệnh như thế nào? Dấu hiệu ra sao? Và cách phòng chống cũng như phải làm gì khi có biểu hiện nghi mắc cảm cúm?
Để hiểu, biết và phòng tránh bệnh, chúng ta cần biết một số thông tin:
1.Bệnh cảm, cúm là gì?
Bệnh cúm (cảm là bệnh lý nhẹ hơn cúm) là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do vi rút cúm gây ra. Bệnh có khả năng lây nhiễm cao từ người sang người, có khả năng gây thành đại dịch và biến chứng hô hấp có thể gây tử vong. Hiện tại chưa có vacxin phòng chống.
2. Cơ chế lây bệnh?
Bệnh lây qua đường hô hấp do tiếp xúc với vi rut từ người bệnh thông qua dịch hắt hơi, sổ mũi trong thời gian từ 1 đến 7 ngày sau khi khởi phát bệnh.
3. Dấu hiệu của cảm, cúm là gì?
- Sốt (trên 38 độ) ;
- Ho (ho khan hoặc ho có đờm), đau họng ;
- Đau đầu hoặc đau cơ, mệt mỏi ;
- Chảy nước mắt, nước mũi ;
- Một số người có biểu hiện nôn, buồn nôn…
- Trường hợp nặng: bệnh có thể diễn biến gây viêm phổi, suy hô hấp và có thể dẫn đến tử vong.
4. Các biện pháp phòng chống?
a. Tăng cường vệ sinh cá nhân
- Thường xuyên rửa tay kỹ bằng xà phòng với nước sạch, tránh tối đa việc chùi tay lên mắt và mũi.
- Che miệng và mũi khi ho và hắt hơi, tốt nhất bằng khăn vải hoặc khăn giấy để giảm phát tán dịch theo đường hô hấp, sau đó hủy hoặc giặt khăn thật sạch bằng xà phòng. Không khạc nhổ bừa bãi.
b. Hạn chế tiếp xúc với nguồn bệnh
- Tránh tiếp xúc với người bị bệnh. Khi cần thiết phải tiếp xúc với người bị bệnh thì phải đeo khẩu trang y tế.
- Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt tại những phòng chật hẹp.
c. Tăng cường sức khỏe và khả năng phòng bệnh
- Hàng ngày sử dụng các dung dịch sát khuẩn đường mũi, mắt (bằng dung dịch Natriclorid 0,9%), họng (súc miệng Fluor ở trường đầy đủ hoặc nước muối pha loãng ở nhà).
- Đảm bảo nơi ở, nơi làm việc, học tập thông thoáng, sạch sẽ, nhiều ánh sáng. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường như xà phòng, nước Javel, cồn 70 độ…
- Ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, kết hợp tập thể dục thường xuyên để tăng cường sức đề kháng, bảo vệ cơ thể.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN
VỀ BỆNH “ TAY- CHÂN- MIỆNG ”

1. Bệnh tay – chân – miệng là gì?
- Tay- chân- miệng là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở trẻ em. Bệnh lây theo đường tiêu hoá và dễ phát triển thành dịch.
- Bệnh do vi rút gây ra, hiện chưa có vắc xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.
2. Ai có thể mắc bệnh tay – chân - miệng ?
Bệnh tay – chân - miệng thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 3 tuổi.
3. Những biểu hiện chính của bệnh tay - chân - miệng?
- Bệnh biểu hiện ban đầu bằng sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, đau họng, nổi phỏng (bóng) nước.
- Phỏng (bóng) nước trong miệng thường thấy ở lợi, lưỡi và mặt trong của má. Ban đầu là những chấm đỏ xuất hiện 1 – 2 ngày sau khi sốt, tiến triển thành phỏng (bóng) nước vỡ ra thành vết loét.
- Phỏng (bóng) nước cũng xuất hiện ở da, thường thấy ở lòng ban tay, lòng bàn chân…
4. Bệnh tay - chân - miệng lây truyền như thế nào?
- Bệnh lây trực tiếp từ người sang người:
+ Qua trực tiếp với phân, dịch tiết mũi họng, phỏng (bóng nước bị vỡ).
+ Qua tiếp xúc giữa trẻ em với nhau hoặc tiếp suc với đồ chơi, bàn ghế, sàn nhà... bị nhiễm vi rút.
+ Qua đường tiêu hóa do ăn uống phải thực phẩm chứa vi rút.
5. Cách phòng bệnh:
Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh mọi người cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
+ Rửa tay cho trẻ nhiều lần trong ngày bằng xà phòng và nước sạch nhất là trước khi ăn và sau khi vệ sinh.
+ Người chăm sóc trẻ cũng cần rửa tay nhiều lần nhất là khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn và sau khi vệ sinh cho trẻ.
+ Không cho trẻ mút tay hoặc đưa đồ chơi lên miệng.
+ Cho trẻ ăn chín uống chín, dùng riêng thìa, bát.
+ Thu gom, xử lý phân và chất thải của trẻ.
+ Thường xuyên vệ sinh sàn nhà, đồ chơi, vận dụng của trẻ bằng xà phòng hoặc nước sát khuẩn.
6. Nên làm gì khi trẻ bị mắc bệnh?
+ Khi thấy trẻ sốt và xuất hiện nốt phỏng ở bàn tay, bàn chân hoặc niêm mạc miệng, cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế.
+ Khi trẻ bị bệnh phải cho trẻ nghỉ học, hạn chế tiếp súc với trẻ khác.
+ Không làm vỡ các nốt phỏng để tránh nhiễm trùng và lây lan bệnh.
+ Hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng, cho trẻ ăn thức ăn lỏng mềm.
Trên đây là những điều cần biết về bệnh tay - chân - miệng.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MÔ CẦU 
Viêm màng não Mô Cầu là một bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng, không như bệnh viêm màng não do Vi rút, bệnh viêm màng não có thể lấy đi sinh mạng của trẻ nhỏ đang khỏe mạnh chỉ trong vòng 24 giờ sau những triệu chứng đầu tiên xuất hiện.
Viêm màng não Mô Cầu khó phát hiện, nhất là trong giai đoạn sớm bởi vì triệu chứng của bệnh giống như những triệu chứng viêm màng não Siêu vi thông thường khác. Bệnh viêm màng não Mô Cầu tỷ lệ tử vong rất cao, những bệnh nhân sống sót để lại di chứng nặng nề do tổn thương não, tổn thương các cơ quan nội tạng như thận, các giác quan như thị giác, thính giác và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, tâm sinh lý bệnh nhân.
* Triệu chứng bệnh viêm màng não Mô Cầu
Diễn biến của bệnh nhanh, và quái ác, bệnh ít gặp nhưng hậu quả để lại rất nặng nề, thời gian chẩn đoán và điều trị chỉ trong vòng một ngày.
+ Triệu chứng sớm:
- Sốt cao 39-40 độC
- Buồn nôn và ói
- Cáu gắt, ăn không ngon hoặc bỏ ăn
- Đau đầu, chóng mặt
- Đau họng, chảy nước mũi.
+ Triệu chứng đặc hiệu ( xuất hiện muộn)
- Xuất hiện ban đỏ vùng da mỏng, đầu chi
- Cứng gáy, đau cổ, co cứng
- Sợ ánh sáng
- Mê sảng, lú lẫn
- Co giật kiểu động kinh
- Mất ý thức, rối loạn cảm giác
* Đường lây nhiễm:
Những hoạt động hàng ngày có thể lây truyền bệnh như: Dùng chung ly, tách uống nước, sống trong khu tập thể, cắm trại, nhà trường, nhà trẻ, sinh hoạt cộng đồng, người hút thuốc lá hay tiếp xúc nhiều với khói thuốc lá…
* Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh viêm màng não Mô Cầu:
Tất cả mọi người khỏe mạnh ở các lứa tuổi khác nhau đều có thể mắc bệnh viêm màng não Mô Cầu nhưng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là nhóm đối tượng dễ mắc bệnh nhất.
* Chăm sóc cấp cứu ban đầu:
- Cho uống thuốc hạ sốt
- Đặt bệnh nhân nằm nơi ánh sáng dịu( hơi tối)
- Nếu bệnh nhân ói đặt bệnh nhân nằm nghiêng để tránh hít chất nôn vào phổi
Đưa ngay bệnh nhân đến bệnh viện để được khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời
* Phương pháp phòng bệnh viêm màng não Mô Cầu:
- Tiêm vác xin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh viêm màng não Mô Cầu.
- Vắc xin phòng bệnh viêm màng não Mô Cầu Meningo(A+C) tiêm khi trẻ được 2 tuổi và người lớn sau đó cứ 3 năm tiêm nhắc lại một lần.
Nếu con bạn chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh viêm màng não Mô Cầu hãy đưa trẻ đến các địa điểm tiêm chủng để được Bác sĩ tư vấn và tiêm vác xin phòng bệnh cho trẻ.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
TUYÊN TRUYỀN NGUYÊN NHÂN CÁCH PHÒNG CHỐNG
BỆNH TIÊU CHẢY VÀ GIUN SÁN TRONG HỌC ĐƯỜNG

I- BỆNH TIÊU CHẢY:
Bệnh tiêu chảy là một bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường tiêu hóa, do vi khuẩn gây nên. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi, trẻ em mắc nhiều hơn người lớn và tất cả các mùa, đặcbiệt khi thời tiết giao mùa, khí hậu ẩm ướt thì trẻ em càng dễ mắc phải. Để giúp các em hiểu biết sâu hơn về bệnh tiêu chảy Ban sức khỏe trường THCS Tiên Phong sẽ giới thiệu về nguyên nhân, tác hại và cách phòng chống, điều trị bệnh tiêu chảy.
Người bị tiêu chảy là người đi đại tiện 3 lần một ngày, ra phân lỏng hoặc toàn nước. Đây là một bệnh thường gặpnhất là ở trẻ nhỏ, đa số trường hợp bệnh hồi phục tốt nếu được chăm sóc đúng cách, ngược lại bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như mất nước, rối loạn điện giải, suy dinh dưỡng thậm chí dẫn đến tử vong nếu như không được điều trị kịp thời.
Tiêu chảy gồm 2 loại: Tiêu chảy cấp tính và tiêu chảy mạn tính
Tiêu chảy cấp tính xảy ra đột ngột, nhưng chỉ kéo dài vài ngày có khi tới hơn 1 tuần, nhưng không quá 2 tuần. Tiêu chảy mạn tính, là tiêu chảy kéo dài trên 2 tuần, 1 tháng, có khi hơn nữa, có ngày tiêu chảy ít, có ngày tiêu chảy nhiều, có ngày tưởng như khỏi bệnh nhưng lại tái phát ngay. Loại tiêu chảy mạn tính ít gặp hơn tiêu chảy cấp, nhất là ở trẻ em.
Vậy nguyên nhân là do đâu?
Nguyên nhân gây tiêu chảy là do mất cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại trong đường ruột
Để ngăn ngừa và phòng dịch bệnh lây lan, chúng ta cần thực hiện tốt những điều sau:
1. Thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường:
- Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
- Mỗi gia đình có một nhà tiêu hợp vệ sinh, cấm đi tiêu bừa bãi. Đối với gia đình có bệnh nhân tiêu chảy cấp cần rắc vôi bột hoặc cloramin B sau mỗi lần đi tiêu.
- Phân và chất thải của người bệnh phải đổ vào nhà tiêu, cho vôi bột, cloramin B…vào sau mỗi lần đi để sát khuẩn.
- Tránh tập trung ăn uống nơi đông người như ma chay, cưới hỏi, cúng giỗ.
- Hạn chế người ra vào vùng đang có dịch.
2. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm:
- Mọi người, mọi nhà đều thực hiện ăn chín uống sôi.
- Không ăn rau sống, không uống nước lã.
- Không ăn các thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là mắm tôm sống, hải sản tươi sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua…
3. Bảo vệ nguồn nước và dùng nước sạch:
- Nguồn nước sạch phải được đảm bảo vệ sinh, sạch sẽ.
- Tất cả nước ăn uống phải được sát khuẩn bằng hóa chất cloramin B.
- Cấm đổ chất thải, nước giặt, rửa đồ dùng của người bệnh xuống ao, hồ, sông, giếng. Cấm vứt súc vật chết và rác xuống ao, hồ, sông, giếng.
4. Khi có tiêu chảy cấp:
Khi gia đình có người bị tiêu chảy cấp, phải nhanh chóng báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị kịp thời.
II- BỆNH GIUN SÁN
Chống phát tán mầm bệnh, tăng cường vệ sinh cá nhân, không dùng phân chưa ủ kỹ để bón ruộng, tẩy giun 6 tháng một lần... để phòng ngừa giun sán.
1, Những nguyên nhân dẫn đến nhiễm giun:
Ai cũng có thể mắc bệnh giun sán, đặc biệt là trẻ em. Trẻ em hầu hết đều có giun, có nhiều loại giun song trẻ thường hay bị giun đũa và giun kim.
Giun có thể bị nhiễm qua đường ăn uống, do ăn thức ăn không sạch, chưa chín kỹ, uống nước chưa đun sôi, ăn các loại rau sống chưa được rửa sạch, qua bàn tay bẩn, qua nguồn nước không vệ sinh, qua sinh hoạt hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với môi trường đất và qua cả nguồn không khí bị ô nhiễm, trẻ có thể bị nhiễm giun khi đưa đồ chơi bẩn vào miệng, cầm nắm thức ăn không rửa tay sau khi đi đại tiện.
2, Biện pháp phòng chống:
- Cắt đứt nguồn nhiễm, điều trị người nhiễm, tẩy giun định kỳ. Cần tập thói quen tẩy giun định kỳ cho cả gia đình tối thiểu 6 tháng một lần (ít nhất 2 lần trong năm).
- Chống phát tán mầm bệnh, tăng cường vệ sinh môi trường, giữ gìn nhà ở, vườn tược sạch sẽ. Quản lý chặt chẽ phân nước rác. Mỗi gia đình cần có hố xí hợp vệ sinh, không phóng uế bừa bãi. Không dùng phân tươi chưa ủ kỹ bón ruộng. Không để ruồi nhặng bậu vào thức ăn. Không để chó, lợn, gà... tha phân gây ô nhiễm môi trường.
- Không ăn uống chưa nấu chín, ôi thiu, cần rửa kỹ thực phẩm dưới vòi nước sạch.
- Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện, không nghịch bẩn, thường xuyên tắm rửa, không đi chân đất, không để trẻ bò lê la dưới đất. Cắt móng tay, đi dép thường xuyên, bảo hộ lao động khi tiếp xúc với đất.
- Tình trạng môi trường sống ô nhiễm cùng với kiến thức vệ sinh hạn chế nên người dân Việt Nam, đặc biệt là trẻ em dễ trở thành đối tượng của các bệnh lý nguy hiểm do nhiễm giun lâu dài.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
TUYÊN TRUYỀN CÁCH PHÒNG TRÁNH NHIỄM
VI RUS ZIKA
Virus Zika lây nhiễm qua muỗi vằn, máu, tình dục. Trong thời gian này, người dân không nên di chuyển đến vùng có dịch và cần áp dụng các biện pháp để phòng tránh nhiễm virus Zika.
Sáng 5/4, Bộ Y tế đã xác nhận Việt Nam có hai người nhiễm virus Zika tại Nha Trang và TP HCM.
Hiện tại, bệnh do virus Zika gây ra chưa có thuốc đặc trị, vắc xin phòng ngừa, để không nhiễm bệnh, người dân cần hạn chế di chuyển tới vùng có dịch và áp dụng một số biện pháp sau:
Phòng tránh muỗi đốt
Theo TS Trần Đắc Phu - Cục trưởng Cục Y tế dự phòng - con đường lây truyền chủ yếu của virus Zika là qua muỗi Aedes. Do đó, cách tốt nhất để phòng tránh nhiễm virus Zika là tránh không bị muỗi đốt.
Muỗi Aedes, loài mang virus Zika, có thể hút máu được 4-5 người trong một bữa ăn, có nghĩa là nó có thể lây lan dịch bệnh nhanh chóng.
Loại muỗi thường sống trong rừng và hút máu các sinh vật máu nóng. Tuy nhiên, gần đây chúng đã phát triển và chuyển sang chỉ hút máu người.
Biện pháp hạn chế muỗi sinh sôi:
- Nếu trong nhà bạn có nhiều thùng nước mưa, hãy xử lý bằng một sản phẩm không độc hại được sản xuất để tiêu diệt ấu trùng muỗi.
- Khoan lỗ trong thùng rác để tránh đọng nước.
- Tháo nước và rửa sạch các bình chứa nước 5 ngày/lần để ngăn chặn trứng muỗi nở.
- Nếu bạn có chậu cây cảnh, vệ sinh và làm khô chậu ít nhất 1 lần/tuần.
- Muỗi Aedes thích hút máu ở khu vực đầu gối, khuỷu tay, do vậy bạn nên mặc quần áo dài và đi tất.
- Sử dụng thuốc chống muỗi, đặc biệt có chứa các thành phần DEET.
- Mặc quần áo sáng màu, do muỗi thường bị thu hút bởi màu tối.
- Tránh dùng các sản phẩm mỹ phẩm có mùi hương.
- Mắc màn khi ngủ.
- Ghi nhớ, muỗi thường dễ cắn vào ban ngày hơn là ban đêm.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ
Các em học sinh thân mến!
Bệnh đau mắt đỏ còn gọi là viêm kết mạc. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và thường gia tăng khi thời tiết chuyển mùa.Bệnh gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sinh hoạt của chúng ta. Bệnh lây lan tương đối nhanh và có thể thành đại dịch.
1. Nguyên nhân, triệu chứng bệnh
a, Nguyên nhân:
Nguyên nhân của Đau mắt đỏ thường là do nhiễm vi khuẩn, virus hoặc do dị vật ... Mặc dù đau mắt đỏ gây kích thích mắt nhưng hiếm khi ảnh hưởng đến thị lực. Đau mắt đỏ có nguy cơ lây nhiễm cao trong vòng 2 tuần từ khi bị bệnh.
b, Triệu chứng:
- Bệnh đau mắt đỏ được biểu hiện chính bằng mắt đỏ và có ghèn. Người bệnh thường đỏ một mắt trước, sau đó lan sang mắt thứ hai, cảm thấy khó chịu ở mắt, sau đó cộm như có cát, mắt có nhiều dử, buổi sáng ngủ dậy hai mắt khó mở do nhiều dử dính chặt.
- Dử mắt có thể màu xanh hoặc màu vàng tùy tác nhân gây bệnh. Mi mắt sưng nề, mắt đỏ, đau nhức, chảy nước mắt.
- Khi bị đau mắt đỏ, người bệnh cũng có thể có thêm các triệu chứng như mệt mỏi, sốt nhẹ, đau họng, ho, xuất hiện hạch ở tai.
- Thông thường người bệnh vẫn nhìn thấy bình thường, thị lực không bị suy giảm nhưng nếu để bệnh nặng, mắt người bệnh có thể bị phù đỏ, có màng trong mắt, xuất huyết dưới kết mạc… thì hậu quả sẽ lớn hơn
2. Đường lây bệnh
Bệnh đau mắt đỏ có thể lây qua:
- Tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh qua đường hô hấp, nước mắt, nước bọt, bắt tay, đặc biệt nước mắt người bệnh là nơi chứa rất nhiều mầm bệnh;
- Cầm, nắm, chạm vào những vật dụng nhiễm nguồn bệnh như tay nắm cửa, nút bấm cầu thang, điện thoại; đồ vật và đồ dùng cá nhân của người bệnh;
- Sử dụng nguồn nước bị nhiễm mầm bệnh như ao, hồ, bể bơi;
- Thói quen hay dụi mắt, sờ vào mũi, vào miệng;
- Những nơi có mật độ người đông rất dễ lây bệnh.
3. Phòng bệnh đau mắt đỏ
Vệ sinh cá nhân tốt là cách tốt nhất để kiểm soát lây lan bệnh Đau mắt đỏ. Khi bị Đau mắt đỏ hoặc nghi ngờ bị Đau mắt đỏ NB cần thực hiện các bước sau:
- Không dụi mắt bằng tay;
- Rửa tay kỹ và thường xuyên với nước ấm, điều này rất quan trọng;
- Rửa mắt hàng ngày bằng nước muối sinh lý (nước muối 0,9%), ngày ít nhất 3 lần vào các buổi sáng, trưa, tối;
- Không giặt chung quần áo, ga giường, khăn tắm với đồ dùng cá nhân của người khác;
- Tránh dùng chung các vật dụng như khăn mặt, chậu rửa;
- Rửa tay sau khi tra thuốc mắt;
- Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn;
- Tránh tập trung đông người khi đang có dịch bệnh Đau mắt đỏ.
Bệnh Đau mắt đỏ rất thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Có những thể bệnh nguy hiểm cần điều trị gấp, nhưng cũng có thể bệnh nhẹ chỉ thoáng qua mà không cần điều trị. Quan trọng là chúng ta phải biết cách nhận biết những dấu hiệu để chẩn đoán đúng nguyên nhân, điều trị thích hợp và phòng bệnh tốt nhằm tránh những tổn hại về sau.


NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng | BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
BÀI TUYÊN TRUYỀN VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH SỞI
Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây dịch lưu hành phổ biến ở trẻ em, bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường xảy ra dịch vào những tháng đông - xuân. Phương thức lây truyền bệnh bằng đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với chất tiết của mũi họng bệnh nhân. Bệnh sởi có tính lưu truyền cao, chỉ có thể cắt đứt được sự lây truyền của bệnh trong cộng đồng khi đạt được > 95% tỷ lệ miễn dịch bảo vệ đặc hiệu trong cộng đồng.
Bệnh có biểu hiện như: sốt, viêm long đường hô hấp trên và phát ban, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như tiêu chảy, viêm phổi, viêm giác mạc thậm chí có thể viêm não dễ dẫn đến tử vong. Tất cả những người chưa bị mắc bệnh sởi hoặc chưa được gây miễn dịch đầy đủ bằng vắc xin sởi đều có cảm nhiễm với bệnh sởi.
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh sởi, việc điều trị chủ yếu để phòng bội nhiễm và điều trị các biến chứng nặng do sởi gây ra. Bệnh nhân cần được cách ly, hạ sốt khi sốt cao, bồi phụ nước và điện giải qua đường uống, chỉ truyền dịch khi người bệnh nôn nhiều.
Các biện pháp phòng bệnh
Tiêm vắc xin sởi
Tiêm vacxin Sởi là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. Sau khi mắc sởi xong hoặc sau sau khi được tiêm đủ 2 mũi vắc xin theo lịch tiêm chủng thì có miễn dịch có thể bền vững suốt đời.
Cách ly người bệnh và vệ sinh cá nhân
Người bệnh sởi phải được cách ly tại nhà hoặc tại cơ sở điều trị theo nguyên tắc cách ly đối với bệnh lây truyền qua đường hô hấp bằng cách:
+ Sử dụng khẩu trang phẫu thuật cho người bệnh, người chăm sóc, tiếp xúc gần và nhân viên y tế.
+ Thời gian cách ly từ lúc nghi mắc sởi cho đến ít nhất 04 ngày sau khi bắt đầu phát ban.
+ Tăng cường vệ sinh cá nhân, sát trùng mũi họng, giữ ấm cơ thể, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng.
NGƯỜI TUYÊN TRUYÊN Nguyễn Thị Thu Hằng 
| BAN GIÁM HIỆU DUYỆT |
